Nghiên cứu sinh Trịnh Thị Thu Huyền bảo vệ luận án tiến sĩ

Vào 16h00 ngày 07/06/2019 tại P501 Nhà A2, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức lễ bảo vệ luận án tiến sĩ cho NCS Trịnh Thị Thu Huyền, chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, với đề tài "Các nhân tố ảnh hưởng đến khách hàng cá nhân trong việc chấp nhận dịch vụ mobile banking tại Việt Nam: Nghiên cứu từ mô hình lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT)".
Thứ ba, ngày 07/05/2019

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Đề tài luận án: Các nhân tố ảnh hưởng đến khách hàng cá nhân trong việc chấp nhận dịch vụ mobile banking tại Việt Nam: Nghiên cứu từ mô hình lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT)
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 
 
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận 
 
Việc kết hợp giữa các yếu tố trong mô hình lý thuyết hợp nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ của Venkatest và cộng sự (2012) (UTAUT2) và phát triển thêm nhân tố niềm tin và nhân tố nhận thức bảo mật trong lĩnh vực mobile banking hầu như chưa được xem xét trong các nghiên cứu trước đây.
 
Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu trước đây về lĩnh vực này các  tác giả chưa xem xét mối liên quan giữa yếu tố văn hóa với các nhân tố trong mô hình UTAUT2. Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam trong việc chấp nhận và sử dụng mobile banking vận dụng UTAUT2 kết hợp với nhân tố niềm tin và nhận thức bảo mật. Nghiên cứu đã đặt tên nhân tố mới (lợi ích kỳ vọng) trên cơ sở kết hợp hai nhân tố của mô hình gốc (hiệu quả mong đợi và giá trị chi phí). Nghiên cứu cũng chỉ ra có mối liên quan giữa yếu tố văn hóa với các nhân tố lợi ích kỳ vọng, nỗ lực kỳ vọng và động lực hedonic.
Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án 
 
Một là, nghiên cứu đã chỉ ra nhận thức bảo mật có ảnh hưởng rất lớn đến việc chấp nhận và sử dụng mobile banking ở Việt Nam. Sau đó là động lực hedonic, ảnh hưởng xã hội, niềm tin, lợi ích kỳ vọng. Điều kiện thuận lợi không ảnh hưởng đến người sử dụng mobile banking ở Việt Nam
 
Hai là, có sự khác biệt về tuổi và giới tính đối với từng nhân tố ảnh hưởng
 
Đối với nhân tố lợi ích kỳ vọng, nỗ lực kỳ vọng: những người dưới 40 tuổi họ cho rằng lợi ích kỳ vọng và nỗ lực kỳ vọng họ đạt được càng lớn thì ý định sử dụng sử dụng mobile banking của họ càng cao, tuy nhiên những người trên 40 tuổi họ không bị ảnh hưởng bởi những nhân tố này.
 
Đối với nhân tố nỗ lực kỳ vọng: những người trẻ (dưới 30 tuổi) và những người 41-50 tuổi họ cho rằng mobile banking càng dễ sử dụng thì ý định sử dụng của họ càng cao. Còn những người ở tuổi 30-40 và trên 50 tuổi không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố này.
 
Đối với nhân tố ảnh hưởng xã hội: chỉ có độ tuổi 40-50 cho rằng ảnh hưởng xã hội không ảnh hưởng đến ý định sử dụng mobile banking.
 
Đối với nhân tố bảo mật, động lực hedonic và ảnh hưởng xã hội: không có sự khác biệt giữa các độ tuổi. Độ tuổi nào họ cũng thấy được ảnh hưởng quan trọng của bảo mật thông tin, ảnh hưởng xã hội và động lực hedonic đối với ý định sử dụng mobile banking. 
 
Chỉ có sự khác biệt về nam, nữ đối với nhân tố nỗ lực kỳ vọng, lợi ích kỳ vọng. Nam giới không bị ảnh hưởng bởi lợi ích kỳ vọng nhưng nữ giới cho rằng lợi ích kỳ vọng càng lớn thì họ càng có ý định sử dụng.
 
Ba là, đưa ra một số gợi ý giải phát tăng cường lượng khách hàng sử dụng mobile banking
 
 
Nội dung của luận án xem tại đây.
 
---------------
 
NEW CONTRIBUTIONS OF THE THESIS
 
Thesis topic: Factors affecting individual customers in accepting mobile banking services in Vietnam: a study from Unified Theory of Acceptance and Use of Technology model (UTAUT)
Training institution: The National Economics University 
 
New contributions in terms of theory 
 
The combination of factors in the second generation of the Unified Theory of Acceptance and Use of Technology (UTAUT2) of Venkatest et al and the addition of trust and perceived privacy factors in the field of mobile banking were mostly overlooked in previous studies. In addition, in the previous studies, the authors did not consider the relation between the cultural factor with factors in UTAUT2 model. This is the first study in Vietnam on accepting and using mobile banking that applies the UTAUT2 model combined with trust and perceived privacy factors. In this study, the new factor is named performance expectancy based on the combination of two factors in the original model (performance expectancy and price value). The study also points out the relation between the cultural factor and perceived benefit, effort expectancy and hedonic motivation factors.  
 
New findings and recommendations from survey and study results    
 
Firstly, the study points out perceived privacy has big influence on the acceptance and use of mobile banking in Vietnam, followed by hedonic motivation, social influence, trust, and performance expectancy. The factor of facilitating conditions does not affect mobile banking users in Vietnam.
 
Secondly, age and gender create difference regarding each impacting factor. 
 
Regarding performance expectancy and effort expectancy: people under 40 think that the better the performance expectancy and effort expectancy they get, the higher the mobile banking use intention. However, people above 40 are not affected by these factors.
 
Regarding effort expectancy: young people (under 30) and those in the 41-50 range think the easier the use of mobile banking, the higher the mobile banking use intention they have. They are normally people who start to access mobile banking applications so they have expectations for this factor. Those  in the range of 30-40 and above 50 are not affected by this factor.
 
Regarding social influence: only people in the 40-50 range think that social influence has no impact on mobile banking use intention.
 
Regarding perceived privacy,  hedonic motivation and social influence: there is no difference in different age groups. People at any age understand the importance of information privacy and hedonic motivation for mobile banking use intention.
 
Gender only creates differences in effort expectancy and performance expectancy. Male people think that the easier the use of mobile banking, the higher the mobile banking use intention but female people are not affected by this factor. Male people are not affected  by performance expectancy but female people think the better the performance expectancy, the higher use intention they have.
 
Thirdly, a number of solutions are proposed to increase the number of customers using mobile banking.