Viện Đào tạo Sau đại học - ĐH KTQD

Nghiên cứu sinh Trần Tuấn Vinh bảo vệ luận án tiến sĩ

Vào hồi 15h30 ngày 05/02/2026, Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức lễ bảo vệ luận án tiến sĩ cho NCS Trần Tuấn Vinh, chuyên ngành Kinh tế Phát triển, với đề tài: Kế hoạch tài chính của người Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài
Thứ tư, ngày 21/01/2026

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Đề tài luận án: Kế hoạch tài chính của người Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài
Ngành đào tạo: Kinh tế phát triển        Mã ngành: 9310105
Nghiên cứu sinh: Trần Tuấn Vinh
Người hướng dẫn: 1. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn   2. TS. Khúc Thế Anh
Cơ sở đào tạo: Đại học Kinh tế Quốc dân 

Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận 

Thứ nhất, luận án dựa trên lý thuyết xã hội hóa tài chính của Gudmunson & Danes (2011) để thảo luận mối quan hệ giữa xã hội hoá tài chính và thịnh vượng tài chính. Mô hình lý thuyết cho thấy, xã hội hóa tài chính không tác động trực tiếp đến thịnh vượng tài chính mà tác động gián tiếp qua kế hoạch tài chính. Tức là, kế hoạch tài chính là biến trung gian toàn phần trong mối quan hệ trên. Các nghiên cứu sau này có thể ứng dụng kết quả này để đánh giá ảnh hưởng của kế hoạch tài chính đến thịnh vượng tài chính của nhóm người đi làm việc tại nước ngoài.
Thứ hai, dựa trên lý thuyết căng thẳng, đánh giá và đối phó của Lazarus & Folkman (1984), luận án đã bổ sung tác động của áp lực tài chính lên kế hoạch tài chính của người đi làm việc tại nước ngoài. Cơ chế tác động giải thích bằng lí do phải nuôi người khác ở quê nhà hoặc chi tiêu tốn kém ở nước ngoài đã làm người lao động phải lên kế hoạch tài chính cụ thể.

Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án 

Thứ nhất, kết quả thực nghiệm dựa trên khảo sát trực tiếp người Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài (tập trung vào người đi xuất khẩu lao động) cho thấy: dân trí tài chính, niềm tin vào năng lực tài chính cá nhân và áp lực tài chính có tác động tích cực và trực tiếp đến kế hoạch tài chính, trong khi đó, xã hội hoá tài chính tác động trung gian. Một số nhân tố nhân khẩu học có ý nghĩa về mặt thống kê như giới tính (nữ tốt hơn nam), thu nhập giữ lại và nước tiếp nhận lao động.
Thứ hai, nghiên cứu đưa ra hàm ý chính sách đối với các cơ quan hoạch định chính sách đối với người Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài: tăng cường giáo dục tài chính về bảo hiểm, các khoản đầu tư, tiết kiệm và thuế ở nước sở tại, tăng cường hỗ trợ cho phụ nữ, tăng khả năng kết nối, học hỏi để tăng xã hội hoá tài chính và giảm áp lực tài chính.
Thứ ba, nghiên cứu đưa ra hàm ý chính sách đối với các công ty xuất khẩu lao động trong việc lựa chọn thị trường mục tiêu (ưu tiên Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan), chú trọng vào đào tạo kĩ năng tài chính như tìm hiểu các sản phẩm của thị trường tài chính ở nước sở tại, tối ưu hoá các khoản thuế… để giúp người lao động hướng tới thịnh vượng tài chính.