Nghiên cứu sinh Hồ Thị Mai Sương bảo vệ luận án tiến sĩ
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Đề tài luận án: Ảnh hưởng của công nghệ theo không gian đến năng suất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam
Ngành đào tạo: Kinh tế học Mã ngành: 9310101
Nghiên cứu sinh: Hồ Thị Mai Sương
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Việt Hùng
Cơ sở đào tạo: Đại học Kinh tế Quốc dân
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
Các nghiên cứu trước đây về lan tỏa công nghệ chỉ áp dụng các lý thuyết vốn kiến thức, lý thuyết bắt kịp công nghệ một cách riêng lẻ. Trong khi đó, luận án kết hợp đồng thời các lý thuyết này và lý thuyết ảnh hưởng không gian trong cùng một mô hình nghiên cứu. Điều này làm rõ bản chất trong cơ chế lan tỏa công nghệ theo không gian, đồng thời thể hiện khả năng mở rộng lý thuyết truyền thống gắn với không gian trong phân tích lan tỏa công nghệ và năng suất lao động.
Về phương pháp luận, luận án kết hợp phân tích hai mô hình gồm mô hình dữ liệu bảng gắn trọng số không gian của biến công nghệ và mô hình Durbin không gian động (SDM) thay vì chỉ xem xét một mô hình như các nghiên cứu trước. Cách tiếp cận này cho phép kiểm tra tính vững chắc của kết quả nghiên cứu cũng như hạn chế các vấn đề nội sinh trong mô hình. Hơn nữa, luận án thực hiện ước lượng mô hình Durbin không gian bằng phương pháp tựa hợp lý cực đại (QMLE). Đây là phương pháp có nhiều ưu điểm vượt trội so với các phương pháp khác đã được sử dụng trong việc đánh giá tác động không gian của công nghệ đến năng suất.
Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án
Thứ nhất, điểm mới đầu tiên thể hiện thông qua tính nhất quán trong kết quả của cả hai mô hình ước lượng về hiệu ứng lan tỏa công nghệ. Kết quả đều khẳng định tác động tích cực của công nghệ theo không gian đến năng suất lao động, trong đó lan tỏa mạnh mẽ diễn ra ở các tỉnh lân cận nhau và khả năng lan tỏa giảm dần theo khoảng cách địa lý. Đồng thời, mô hình SDM cho thấy một số phát hiện mới bao gồm: (1) Trong ngắn hạn, tác động trực tiếp của công nghệ thấp hơn so với tác động gián tiếp. (2) Tác động phản hồi của một tỉnh sang tỉnh lân cận và quay trở lại chính tỉnh đó là tích cực trong cả ngắn hạn và dài hạn.
Thứ hai, luận án làm rõ một số phát hiện mới liên quan đến vai trò của khả năng hấp thụ công nghệ và lan tỏa năng suất lao động theo không gian. Kết quả mô hình SDM động chỉ ra rằng tại các địa phương có khoảng cách công nghệ lớn và chất lượng lao động được cải thiện nhưng ở ngưỡng thấp thì lao động có xu hướng dịch chuyển sang các tỉnh lân cận có trình độ công nghệ cao hơn, từ đó gián tiếp thúc đẩy năng suất tại nơi tiếp nhận. Hơn nữa, kết quả cũng cho thấy năng suất lao động có tác động lan tỏa dương theo không gian, khẳng định sự gia tăng năng suất lao động của một tỉnh sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực đến tỉnh lân cận.
Thứ ba, kết quả thực nghiệm là căn cứ khoa học nhằm đề xuất chính sách ưu tiên: Thúc đẩy lan tỏa công nghệ giữa các địa phương; Phát triển ngành chế biến, chế tạo theo mô hình liên kết vùng; Đổi mới chính sách phát triển đào tạo lao động theo hướng gắn kết không gian.
-----------------------------------------------------------------------------
NEW CONTRIBUTIONS OF THE DISSERTATION
Dissertation title: The impact of spatial technology on productivity in Vietnam's manufacturing industry.
Specialization: Economics Specialization code: 9310101
PhD candidate: Ho Thi Mai Suong
Supervisor: Assoc. Prof. Dr. Nguyen Viet Hung
Institution: National Economics University
New academic and theoretical contributions
Previous studies on technology spillovers have applied the knowledge capital theory and the technology catch-up theory separately. In contrast, this thesis integrates these theories with spatial effects analysis into a unified research framework. This approach clarifies the nature of spatial technology spillover mechanisms and demonstrates the applicability of traditional theories when combined with spatial factors in analyzing technology spillovers and labor productivity.
Regarding methodology, the thesis combines two models: a panel data model with spatially weighted technology variables and a dynamic Spatial Durbin Model (SDM), rather than relying on a single model as in previous studies. This approach allows for robustness checks and helps address endogeneity issues. Furthermore, the thesis estimates the Spatial Durbin Model using Quasi-Maximum Likelihood Estimation (QMLE). This method offers significant advantages over other techniques previously used to assess the spatial effects of technology on productivity.
New findings and proposals derived from research results
First, the novelty of the study is reflected in the consistency of the results across both estimation models regarding technology spillover effects. The findings confirm the positive spatial impact of technology on labor productivity, with strong spillovers among neighboring provinces and a clear distance decay effect. In addition, the SDM model reveals several new findings: (1) in the short run, the direct effect of technology is smaller than its indirect effect; and (2) the feedback effects from one province to neighboring provinces and back to the originating province are positive in both the short term and the long term.
Second, the thesis highlights new findings on the role of technology absorptive capacity and spatial labor productivity spillovers. The dynamic SDM results indicate that in localities with a large technology gap and low levels of labor quality improvement, labor tends to migrate to neighboring provinces with higher technology levels, thereby indirectly boosting productivity in the receiving areas. Furthermore, labor productivity also generates positive spatial spillover effects across provinces.
Third, the empirical findings provide a scientific basis for proposing priority policies, including promoting inter-provincial technology spillovers, developing the manufacturing sector through regional connectivity, and restructuring labor training strategies toward spatial integration.