Nghiên cứu sinh Nguyễn Thành Lâm bảo vệ luận án tiến sĩ
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Đề tài luận án: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại nhà ở Việt Nam
Ngành đào tạo: Quản trị kinh doanh (Marketing) Mã ngành: 9340101
Nghiên cứu sinh: Nguyễn Thành Lâm
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Tuấn
Cơ sở đào tạo: Đại học Kinh tế Quốc dân
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
Thứ nhất, về cách tiếp cận lý thuyết, luận án đã xây dựng mô hình nghiên cứu tích hợp đa khung lý thuyết, gồm Lý thuyết Hành vi hoạch định (TPB), Mô hình Niềm tin sức khoẻ (HBM) và Mô hình Năng lực-Cơ hội-Động lực-Hành vi (COM-B) nhằm đánh giá toàn diện các nhóm yếu tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ Khám chữa bệnh tại nhà (KCBTN).
Thứ hai, đặt trong bối cảnh số hoá ngành y tế, luận án đã tích hợp thêm Mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM) vào khung lý thuyết nhằm khắc phục hạn chế của các mô hình trước. Điều này tạo nên cơ sở cho việc mở rộng khái niệm KCBTN. Không chỉ dừng ở phạm vi thăm khám trực tiếp, nghiên cứu xem xét cả hình thức khám chữa bệnh trực tuyến từ xa thông qua bổ sung các nhân tố ảnh hưởng công nghệ (nhận thức tính hữu ích (PU), nhận thức tính dễ sử dụng (PEOU) và nhận thức độ tin cậy (PR)). Việc kết hợp cho phép đề tài đánh giá đa chiều và sát thực tiễn về hành vi sử dụng dịch vụ KCBTN của người dùng Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, xuất phát từ đặc thù kinh tế - xã hội của thị trường mới nổi, luận án đã bổ sung biến Chi phí và khả năng chi trả - nhân tố ít được đề cập trong nghiên cứu về KCBTN tại các quốc gia đang phát triển. Việc đưa nhân tố mới này giúp lấp đầy khoảng trống bối cảnh nghiên cứu, đồng thời đóng góp thêm tài liệu về mặt học thuật trong lĩnh vực nghiên cứu hành vi khách hàng.
Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án
Thứ nhất, luận án đã phát hiện các yếu tố tác động mạnh đến ý định sử dụng dịch vụ KCBTN trong bối cảnh Việt Nam, bao gồm: Chi phí và khả năng chi trả; Ảnh hưởng xã hội; Nhận thức tính hữu ích, tính dễ sử dụng và độ tin cậy tác động thông qua biến trung gian Thái độ. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra yếu tố công nghệ tác động mạnh đến ý định sử dụng dịch vụ KCBTN của người Việt.
Thứ hai, kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ thực tiễn cho Bộ Y tế, đặc biệt là những nhà hoạch định chính sách bảo hiểm y tế. Qua đó, định hướng thiết kế các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận dịch vụ y tế tại nhà và gia tăng mức độ phổ biến của loại hình dịch vụ này giúp giảm tải những áp lực cho hệ thống y tế tuyến trên.
Thứ ba, luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho các cơ sở cung cấp dịch vụ KCBTN cũng như các đội ngũ, nhân viên y tế thiết kế các chương trình marketing và các giải pháp quản lý phù hợp, nhằm thúc đẩy người dân nhận thức tích cực và chấp nhận sử dụng dịch vụ KCBTN.
Thứ tư, kết quả nghiên cứu của luận án giúp người bệnh hiểu về các yếu tố và động lực ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ KCBTN, góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin của người dân Việt Nam đối với dịch vụ mới này.
------------------------------------------------------------
NEW CONTRIBUTIONS OF THE THESIS
The thesis topic: Factors Influencing the Intention to Use Home Healthcare Services in Vietnam
Field of study: Marketing Code: 9340101
PhD candidate : Nguyen Thanh Lam PhD Candidate Code : TS4250MA
Supervisor: Assoc. Prof. Dr. Pham Van Tuan
Educational Institution: National Economics University
1. Contributions from the aspect of academic and theory
First, in terms of theoretical approach, the dissertation develops an integrated, multi-framework research model combining the Theory of Planned Behavior (TPB), the Health Belief Model (HBM), and the Capability-Opportunity-Motivation-Behavior Model (COM-B) to comprehensively assess the groups of factors influencing the intention to use home healthcare services (HHCS).
Second, to fit in the digitalization of the healthcare sector, the dissertation further incorporates the Technology Acceptance Model (TAM) into the theoretical framework to address the limitations of prior models. This addition provides the foundation for broadening the concept of HHCS. Beyond in-person consultations, the study also extends to remote, online home-based medical care by introducing technological factors, namely, perceived usefulness (PU), perceived ease of use (PEOU), and perceived reliability (PR). This integrated approach enables a multidimensional and practically grounded assessment of HHCS utilization among Vietnamese users.
Third, given the distinct socio-economic characteristics of an emerging market, the dissertation introduces Financial Cost as an additional variable, a factor that has received limited attention within developing countries. The inclusion of this new factor serves to fill an existing contextual research gap while contributing further academic literature to the field of consumer behavior research.
2. New findings and proposals drawn form the thesis
First, the dissertation identifies several factors that strongly influence the intention to use home healthcare services in Vietnamese, including: Cost and Affordability; Social Influence; Perceived Usefulness, Perceived Ease of Use, and Perceived Reliability – the latter three operating through the mediating variable of Attitude. The findings further reveal that technology based factors exert a strong influence on Vietnamese users’ intention to use HHCS.
Second, the findings offer practical evidence for the Ministry of Health, particularly for health insurance policymakers, to guide the design of supportive policies that facilitate public access to home healthcare services. Expanding the reach of this service model can also help to alleviate the burden on top-tier hospitals.
Third, the dissertation provides empirical evidence to assist home healthcare providers, as well as healthcare teams and staff in designing appropriate marketing programs and management strategies to foster positive public perception and encourage adoption of HHCS.
Fourth, the research findings provide patients better understand the factors and motivations underlying their decision to choose HHCS, thereby enhancing public awareness and strengthening Vietnamese people’s trust in this emerging service model