Viện Đào tạo Sau đại học - ĐH KTQD

Nghiên cứu sinh Vũ Đức Hiếu bảo vệ luận án tiến sĩ

Vào 15h00 ngày 01/07/2026, Phòng 502 nhà A2, Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức lễ bảo vệ luận án tiến sĩ cho NCS Vũ Đức Hiếu chuyên ngành Kinh tế học với đề tài: Tác động của giáo dục tới sự khác biệt về sức khỏe ở người cao tuổi Việt Nam
Thứ năm, ngày 11/06/2026

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Đề tài luận án: Tác động của giáo dục tới sự khác biệt về sức khỏe ở người cao tuổi Việt Nam
Ngành đào tạo: Kinh tế học                             Mã ngành: 9310101
Nghiên cứu sinh: Vũ Đức Hiếu                              Mã nghiên cứu sinh: TS4103KH
Người hướng dẫn: GS.TS. Giang Thanh Long  
Cơ sở đào tạo: Đại học Kinh tế Quốc dân 

Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận: 

Luận án có hai đóng góp giá trị về mặt lý luận và học thuật. Thứ nhất, luận án kết nối các phát hiện trước đây từ hai lĩnh vực thường được xem xét riêng biệt: tác động của giáo dục đến các hoạt động lão hóa tích cực và các hoạt động này quay trở lại đóng vai trò là yếu tố bảo vệ sức khỏe. Trên cơ sở đó, luận án làm sáng tỏ cơ chế mà qua đó giáo dục ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sức khỏe người cao tuổi (NCT) thông qua thúc đẩy các hoạt động tích cực hàng ngày. Thứ hai, luận án lượng hóa được sự khác biệt về trình độ học vấn như là một nguyên nhân chính dẫn đến sự khác biệt sức khỏe giữa các nhóm NCT phân theo giới tính và khu vực cư trú. Điểm mới nằm ở việc luận án sử dụng hai thước đo sức khỏe, đó là sức khỏe chủ quan (thể hiện bằng mức độ tự đánh giá tình hình sức khỏe – SRH) và sức khỏe khách quan (thể hiện bằng hạn chế trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày thay thế – IADL). Cách tiếp cận đa chiều này giúp khắc phục hạn chế của từng biến số riêng lẻ, đảm bảo đánh giá chính xác hơn tình trạng sức khỏe của NCT.

Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án: 

Luận án đưa ra những phát hiện và đề xuất đột phá so với các quan điểm truyền thống. Thứ nhất, luận án bác bỏ giả định rằng mọi hình thức già hóa tích cực đều có lợi ích tương đương, trong đó khẳng định rằng kết nối xã hội là kênh trung gian chủ đạo, vượt trội so với làm việc hay tham gia các hoạt động sinh hoạt đoàn thể. Điều này cho thấy giáo dục ảnh hưởng đến sức khỏe chủ yếu thông qua duy trì năng lực xử lý thông tin và truy cập tri thức – những yếu tố không thể ủy thác, chứ không phải qua tương tác xã hội đơn thuần. Thứ hai, luận án chỉ ra rằng, nếu chỉ dựa vào sức khỏe chủ quan (SRH) thì sẽ không thấy được sự khác biệt trong trình độ giáo dục tác động đến sức khỏe của NCT như thế nào. Cụ thể, chênh lệch trình độ học vấn đóng góp vào sự khác biệt về khả năng sống độc lập (IADL) gấp khoảng hai lần so với SRH khi xét NCT ở cả khía cạnh giới tính và khu vực cư trú. Phát hiện này của luận án cảnh báo rằng việc bỏ qua thước đo sức khỏe khách quan sẽ khiến nhà hoạch định chính sách không nhận diện đầy đủ nguy cơ phụ thuộc chăm sóc dài hạn ở những NCT có trình độ giáo dục thấp. Từ những phát hiện này, luận án đã đề xuất tập trung thu hẹp khoảng cách số và thúc đẩy kết nối xã hội cho NCT yếu thế (như phụ nữ, NCT sống ở nông thôn) như các chiến lược phòng ngừa bền vững, giảm gánh nặng an sinh trong bối cảnh dân số già hóa nhanh chóng.

-----------------------------------------------------------------------------

NEW CONTRIBUTIONS OF THE THESIS

Thesis topic: The impact of education on health disparities among older adults in Vietnam
Major: Economics                    Major Code: 9310101
PhD student: Vu Duc Hieu                 PhD code: TS4103KH
Supervisor: Prof.Dr. Giang Thanh Long  
Training institution: National Economics University

New academic and theoretical contributions

The thesis makes two valuable theoretical and academic contributions. First, it bridges findings from two previously distinct fields of research: the impact of education on active aging activities, and the role of these activities as protective factors for health. In doing so, the study elucidates the mechanisms through which education influences the health of older adults both directly and indirectly, by promoting engagement in daily active activities. Second, the thesis quantifies educational disparities as a key determinant of health disparities among older adults across gender and residential groups. A key innovation lies in the use of two complementary health measures: subjective health, captured by self-rated health (SRH), and objective health, reflected by limitations in instrumental activities of daily living (IADL). This multidimensional approach addresses the limitations of relying on single indicators, thereby ensuring a more accurate assessment of older adults’ health status.

New findings and recommendations drawn from the thesis results
 
The thesis presents breakthrough findings and recommendations that challenge traditional perspectives. First, it refutes the assumption that all forms of active aging yield equivalent benefits, asserting instead that social connectivity serves as the primary mediating channel, surpassing the effects of productive activities or participation in social organizations. This suggests that education influences health mainly by maintaining information processing capabilities and access to knowledge – factors that cannot be delegated – rather than through social interaction alone. Second, the thesis demonstrates that relying solely on subjective health measures (SRH) fails to fully capture how educational disparities impact the health of older adults. Specifically, when analyzing older adults by gender and residential area, educational disparities contribute approximately twice as much to differences in independence in daily living (IADL) as they do to subjective health perception (SRH). This finding warns policymakers that overlooking objective health measures may lead to an underestimation of the long-term care dependency risks among older adults with lower education levels. Based on these insights, the thesis proposes focusing on narrowing the digital divide and promoting social connectivity for vulnerable older adults, such as women and those in rural areas, as sustainable preventive strategies to reduce the social welfare burden in the context of rapid population aging.